Trả lời cho câu hỏi này không phải là dễ, v́ có rất nhiều câu định nghĩa khác nhau liên quan đến lịch sử thần học cũng những yếu tố làm nên phụng vụ. Cha Schmidt s.j. đă thu lượm được tới 30 câu định nghĩa khác nhau về phụng vụ trong những tác phẩm cận đại và đương thời.

Nhưng, nếu dựa vào câu định nghĩa của ĐGH Pi-ô XII trong thông điệp Médiator Dei, ban hành ngày 20.11.1947, th́ vấn đề có thể đơn giản hơn. Đây là một câu định nghĩa vững chắc, trong một văn kiện rất có giá trị và đầy đủ thẩm quyền cho chúng ta dùng làm cứ điểm. Câu định nghĩa đó như sau:

“Hội Thánh tiếp tục chức vụ tư tế của Chúa Giê-su Ki-tô, nhất là bằng phụng vụ. Phụng vụ là việc kính thờ công cộng mà Đấng Cứu chuộc chúng ta dâng lên Chúa Cha với tư cách là thủ lănh, người đứng đầu Hội Thánh. Đó cũng là việc kính thờ do cộng đồng tín hữu dâng lên Đấng lănh đạo ḿnh và nhờ Người, dâng lên Chúa Cha hằng hữu. Tắt một lời, đó là việc kính thờ trọn vẹn của thân thề mầu nhiệm Đức Giê-su Ki-tô, nghĩa là của Đấng lănh đạo và các phần tử của người.”

Trên phương diện này, phụng vụ bắt nguồn từ mầu nhiệm Đức Ki-tô và mầu nhiệm về Hội Thánh. Hai mầu nhiệm này có liên quan mật thiết và tùy thuộc lẫn nhau. Hội Thánh là một cộng đồng huyền nhiệm được ví như các phần thân thể liên kết với đầu, và trong trường hợp ở đây, đầu là Đức Ki-tô, theo kiểu nói và h́nh ảnh thánh Phao-lô quen dùng. Nói khác đi, việc kính thờ theo phụng vụ được học thuyết về thân thể mầu nhiệm Đức Ki-tô soi sáng và cuối cùng được chính Đức Ki-tô hướng dẫn.

Từ cách tŕnh bày vấn đề như trên nảy sinh ra hiệu quả đầu tiên này là : phải vất bỏ những câu định nghĩa có trong một số thư bản phụng vụ trước kia chỉ chú ư đến các góc cạnh bên ngoài của việc thờ phượng. Trong thông điệp nói trên, ĐGH Pi-ô XII đă không ngần ngại tuyên bố rằng những quan niệm như thế là c̣n thiếu sót.

Thật hoàn toàn không đúng, khi nh́n phụng vụ chỉ như một phần hoàn toàn ngoại tại và khả giác của việc thờ phượng, hay chỉ như một lễ nghi trang trí. Cũng là một lầm lẫn không nhỏ, nếu chỉ coi đó như toàn bộ luật lệ và chỉ thị phải giữ để cử hành cho đúng theo nghi thức do lệnh của giáo quyền ban ra.
Phụng vụ không hệ tại vẻ long trọng và đẹp mắt vui tai bên ngoài như đi rước tưng bừng, lễ phục lộng lẫy, đàn hát du dương. Phụng vụ là cái ǵ khác hơn là lễ nghi dù long trọng đẹp mắt vui tai đến mấy đi nữa ! Phụng vụ đ̣i phải có hồn.

V́ thế cũng ĐGH Pi-ô XII đ̣i buộc chủ tế, thừa tác viên và những người tham dự phải có ḷng sốt sắng đạo đức thực sự, khi cử hành các lễ nghi phụng vụ. Làm đúng các lễ nghi không thôi, chưa đủ. Thiên Chúa đợi chờ tín hữu dâng ḷng ḿnh làm lễ phẩm cùng một lúc với sự tôn thờ và lời cầu nguyện kết hợp với sự thờ phượng của Hội Thánh và của Đức Ki-tô. Nếu việc thờ phượng cần có những cử chỉ, thái độ bên ngoài v́ tính chất xác thể và xă hội của con người th́ như ĐGH nói, “Nét cốt yếu của việc thờ phượng phải ở bên trong. Cần phải luôn luôn sống trong Đức Ki-tô, phải hoàn toàn tận tụy với Người để trong Người, cùng với Người và nhờ Người mà tôn vinh Cha trên trời. Hội Thánh muốn mọi tín hữu phủ phục dưới chân Chúa Cứu thế để bày tỏ ḷng mến yêu và cung kính Người.”

Nếu nh́n qua bên ngoài th́ hành động phụng vụ dường như chỉ là những lễ nghi bên ngoài, nhưng trong tâm tưởng của Hội Thánh, phụng vụ chỉ có giá trị khi biểu lộ ra bên ngoài thái độ cầu nguyện ở bên trong. Quả thật, trong phụng vụ có h́nh thức cầu nguyện được biểu lộ ra bên ngoài và có tính cách cộng đồng, nhưng sự cầu nguyện này chỉ là cầu nguyện thật khi phát xuất tự đáy ḷng.

Hơn nữa c̣n phải nhấn mạnh đến luật này của việc cầu nguyện theo phụng vụ, như nhiều thư bản đề cao là phải có những điều kiện Hội Thánh đ̣i hỏi từ nhiều thế kỷ th́ một hành động mới kể là phụng vụ. Điều kiện xem ra có vẻ hạn chế, v́ đối với Hội Thánh, một cộng đoàn tín hữu hội họp và nghe những bài sách thánh, hát các thánh vịnh, nói với Chúa qua miệng chủ tế hay đại diện cộng đoàn đọc những công thức cầu nguyện thu tóm các ư chỉ của mọi người và c̣n hơn thế nữa, mặc cho những thứ đó một bộ áo lễ nghi trang trọng, bấy nhiêu mà thôi th́ chưa đủ. C̣n phải có những điều kiện khác nữa. Những điều kiện này c̣n được nhắc lại trong huấn thị của Bộ Phượng tự ngày 3.9.1958 như sau :

“Những hành động nào đó Đức Giê-su Ki-tô hay Hội Thánh lập ra, được thi hành nhân danh Đức Giê-su Ki-tô và Hội Thánh theo những sách phụng vụ được Ṭa thánh chuẩn nhận, do những người được uỷ nhiệm một cách chính đáng th́ những hành động ấy được gọi là phụng vụ.”

Những điều xác định trên đây về cơ chế, các sách và các thừa tác viên chính thức của phụng vụ cũng dễ hiểu, khi ta nghĩ tới mối bận tâm của Hội Thánh cần phải bảo đảm sự chặt chẽ, thống nhất và đứng đắn trong các buổi cử hành phụng vụ. Trước khi những điều vừa nói có giá trị và hiệu lực của một khoản luật, nghĩa là trước khi công bố sách nguyện, sách lễ, sách nghi thức Rô-ma, trước năm 1568 th́ phụng vụ có vẻ lộn xộn. Một vài thói tục địa phương, một vài điều bày đặt lố bịch trong các nghi thức và công thức cũng đủ che lấp cái chính yếu và cốt tủy của phụng vụ Rô-ma. Luther đă không hoàn toàn vô lư khi ông tố giác những điều mê tín ông được chứng kiến và đ̣i quyền được thanh lọc những điều quái gỡ đó ra khỏi lời cầu nguyện của Hội Thánh.

Hiện nay sau bốn thế kỷ tập quyền, thấy nổi lên một phong trào tản quyền. Trong khóa I Công đồng Va-ti-ca-nô II, các Giám mục đă cứu xét những bất tiện do t́nh trạng hành chính bấy giờ gây nên. V́ thế có hai nguyên tắc đă được đưa ra : một là sửa lại các sách phụng vụ, hai là thẩm quyền của các Hội đồng Giám mục địa phương để thực hiện một số thích nghi và để hoàn thành các bản dịch từ nay sẽ được đọc bằng tiếng bản quốc. Chương I Hiến chế về phụng vụ được biểu quyết cuối khóa I Công đồng viết :

“Khi không có ǵ nguy hại về đức tin và ích chung th́ Hội Thánh không có ư áp đặt, dù trong phụng vụ, một sự đồng nhất cố định. Ngược lại Hội Thánh quí chuộng và bảo vệ những đặc tính và những giá trị tinh thần của các ṇi giống và dân tộc. Hội Thánh nh́n xem một cách thiện cảm tất cả những ǵ trong tập quán của các dân tộc không gắn liền với mê tín và sai lạc và khi có thể th́ bảo vệ và duy tŕ, đôi khi đi cả tới chỗ chấp nhận cho dùng trong phụng vụ, miễn là phù hợp với tinh thần phụng vụ đích thật và chân chính.

Xem đấy th́ nguyên tắc quyền bính tuyệt đối của Ṭa thánh như nói trong huấn thị năm 1568 và như mọi người chấp nhận cho đến thế kỷ XVI, mà không đặt thành vấn đề tranh luận nay có phần nới rộng hơn nhất là với huấn thị IV đề là phụng vụ Rô-ma với vấn đề hội nhập văn hóa ban hành năm 1994, phụng vụ càng có điều kiện để được thích nghi và sáng kiến rộng răi.

 

Phụng Linh

 

 

 

 

 

 

 

[Trang Nhà]  [Guestbook]  [Liên Lạc]